Áp dụng phương pháp nghiên cứu thời gian giải phóng hàng (TRS) của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), phiên bản 2.0-2011, Tổng cục Hải quan đã tiến hành cuộc đo giải phóng hàng hóa năm 2013 tại 11 Chi cục Hải quan cảng/cửa khẩu thuộc 7 Cục Hải quan tỉnh, thành phố thuộc 3 tuyến đường vận tải hàng hóa XNK: đường không, đường bộ và đường biển. Kết quả chung cuộc của cuộc đo thời gian giải phóng hàng, Tổng cục Hải quan đã xác định được tổng thời gian thông quan/giải phóng hàng trung bình của hàng hóa XNK năm 2013; thời gian xử lý công việc thuộc trách nhiệm của cơ quan hải quan trong quy trình làm thủ tục đối với hàng hóa XNK và xác định khâu nghiệp vụ gây chậm chễ, kéo dài thời gian thông quan.

vi3

Ngày 19/9/2014, Tổng cục Hải quan đã tổ chức Hội nghị công bố kết quả đo thời gian giải phóng hàng của hải quan Việt Nam tại Hà Nội. Đây là lần đầu tiên Việt Nam thực hiện một cuộc đo thời gian giải phóng háng hóa nhằm đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức tham gia trong quy trình XNK hàng hóa.

Cụ thể, đối với hàng NK, thời gian giải phóng hàng từ khi đăng ký tờ khai cho đến khi cơ quan hải quan ra quyết định thông quan/giải phóng hàng là 32 giờ 37 phút 55 giây (chiếm khoảng 28% tổng thời gian từ khi hàng đến cảng/cửa khẩu đến khi hàng có quyết định thông quan/giải phóng hàng rời khỏi khu vực giám sát hải quan); 72% còn lại là thời gian tác nghiệp của các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động XNK.

Đối với hàng xuất khẩu thời gian từ khi đăng ký tờ khai cho đến khi cơ quan hải quan ra quyết định thông quan/giải phóng hàng là: 11 giờ 6 phút 33 giây.

Kết quả phân tích cho thấy, thời gian từ khi hàng hóa đến cửa khẩu, cảng biển đến khi đăng ký tờ khai hải quan chiếm 58%, thuộc trách nhiệm của DN, các cơ quan kiểm tra chuyên ngành, hãng tàu, công ty kinh doanh cảng, kho bãi, bến bãi chứa hàng hóa…

Thời gian từ khi đăng ký tờ khai đến khi thông quan/giải phóng hàng chiếm 28%: Thuộc trách nhiệm của cơ quan hải quan, DN, các cơ quan kiểm tra chuyên ngành (thời gian DN chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành để kiểm tra chi tiết hồ sơ), công ty kinh doanh cảng (chờ chuẩn bị hàng để kiểm hóa).

Thời gian từ khi thông quan/giải phóng hàng đến khi hàng ra khỏi cổng cảng chiếm 14% thuộc trách nhiệm của DN, công ty kinh doanh cảng, lực lượng giám sát hải quan, cơ quan quản lý giao thông ngoài cửa khẩu…

Theo ông Hoàng Việt Cường – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, lần đo này là cũng là dịp để cơ quan hải quan nhìn nhận lại mình và rà soát lại tất cả các quy trình hải quan, từng loại hình XNK, từng tuyến vận tải để biết được công đoạn này còn nhiều bất cập cần xem xét, sửa đổi trong thời gian tới. Được Chính phủ giao xây dựng 3 Nghị định, 17 Thông tư, ngành hải quan đang cố gắng làm sao đưa ra các giải pháp để cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian thông quan tối đa cho diện hàng hóa thuộc cả luồng vàng và luồng đỏ.

Ví dụ như, trong thời gian vừa qua, sau khi rà soát lại quá trình thông quan, giải phóng hàng hóa, mặc dù đã áp dụng hải quan điện tử nhưng thời gian thông quan còn phụ nhiều vào thời gian việc nộp thuế, phí điện tử hàng hóa. Đây là khoảng thời gian chiếm khá nhiều trong quá trình chờ đợi hoàn tất thủ tục thông quan. Bởi hiện nay việc thanh toán thuế điện tử cũng mới thực hiện ở một số ngân hàng thương mại có ký kết với cơ quan hải quan. Sắp tới, cơ quan hải quan sẽ mở rộng ký kết với tất cả các ngân hàng thương mại mà các DN có đăng ký tài khoản thanh toán với cơ quan hải quan và nối dài với chi nhánh ngân hàng thương mại đã có ký kết với cơ quan hải quan.

Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã có kế hoạch chi tiết triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng việc đơn giản hóa, công khai minh bạch thủ tục và thời gian thực hiện trong Luật Hải quan, nâng cao chất lượng công tác nghiệp vụ hải quan, kiểm soát thời gian tác nghiệp của cơ quan hải quan theo luật định, phối hợp với các cơ quan, các tổ chức liên quan để triển khai cắt giảm thời gian nhằm đạt thời gian tiếp nhận và đăng ký tờ khai dưới 5 phút; thời gian kiểm tra hồ sơ không quá 2 giờ; thời gian kiểm tra thực tế không quá 8 giờ; thời gian kiểm tra giám sát tại cổng cảng không quá 3 phút; thanh toán thuế và lệ phí cơ bản bằng phương thức điện tử.

Việc tổ chức đo thời gian giải phóng hàng sẽ thực hiện định kỳ 5 năm 3 lần (đầu, giữa, cuối kỳ) nhằm đánh giá việc thực hiện kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan theo giai đoạn 5 năm.

Kết quả đo chung cuộc giải phóng hàng hóa năm 2013
Thời gian trung bình đối với hàng hóa XK NK
Các khoảng thời gian TBC
Số tờ khai 3.124 4.317
Thời gian từ khi đăng ký tờ khai đến khi thông quan/giải phóng hàng hóa 11:06:33 32:37:55
Thời gian đăng ký tờ khai 0:01:06 0:01:05
Thời gian kiểm tra chứng từ giấy (đối với luồng vàng) 0:12:14 0:35:51
Thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa (đối với luồng đỏ) 0:19:08 0:24:48
Thời gian từ khi thông quan/giải phóng hàng đến khi rời khỏi cổng cảng/cửa khẩu   16:08:41
Thời gian từ khi hàng đến tới khi rời cổng cảng/cửa khẩu   115:00:17
TCHQ triển khai thu thập dữ liệu tại 11 Chi cục từ ngày 9-14/9/2014; các dữ liệu còn thiếu được theo dõi thu thập đến hết ngày 30/9/2014.

 

 

 

Vasep.com.vn